Posted in

Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược

Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhận định Việt Nam đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển công nghệ chiến lược (CNCL).
Sau 9 tháng ban hành Danh mục Công nghệ chiến lược và tiến hành triển khai, ngoài việc chúng ta đã nghiên cứu phát triển được một số sản phẩm chiến lược, nhìn thấy nhiều hạn chế và tồn tại, điều quan trọng nhất là chúng ta đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển CNCL Việt Nam.
Thứ nhất: Ban hành danh mục CNCL phải kèm theo sản phẩm CNCL, công nghệ lõi, và phải sát với nhu cầu phát triển và lợi thế của đất nước.
CNCL là các hướng công nghệ ưu tiên; Sản phẩm CNCL là đầu ra để tạo lập thị trường; Công nghệ lõi là năng lực làm chủ và tự chủ công nghệ.
Có một điểm chú ý quan trọng là, xây dựng danh mục CNCL, sản phẩm CNCL, công nghệ lõi phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia, chứ không phải xuất phát từ công nghệ. Công thức đúng là đi từ bài toán quốc gia tới sản phẩm chiến lược rồi tới công nghệ. Chương trình CNCL quốc gia phải bao quát đầy đủ các khâu từ nghiên cứu khoa học, tới phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây. Và phải kết hợp được cả hai công cụ của nhà nước là ngân sách và chính sách tạo thị trường. Thiết kế chương trình CNCL trước đây tập trung vào công nghệ và ngân sách là chính, chưa chú trọng các chính sách tạo thị trường.
Về danh mục CNCL, Chính phủ đã ban hành tháng 6/2025 và sẽ sửa đổi sau một năm ban hành. Chúng ta sẽ bổ sung các công nghệ chiến lược thuộc các dòng sản phẩm đang là chủ lực của Việt Nam, cả xuất khẩu và trong nước. Làm chủ các công nghệ lõi sẽ vừa tăng năng lực cạnh tranh, vừa tạo giá trị tăng thêm cho các sản phẩm chủ lực. Danh mục CNCL có thể chia làm ba loại, có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn: 1-3 năm, 3-5 năm và 5-10 năm. 70-80% ngân sách và nguồn lực sẽ dành cho loại 1 và 2, như vậy sẽ vừa có kết quả nhanh, vừa xây năng lực dài hạn.
Kèm theo danh mục CNCL là danh mục các sản phẩm CNCL, danh mục các công nghệ lõi và lộ trình làm chủ đối với từng CNCL. Các sản phẩm CNCL phải kèm theo yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, các công nghệ lõi phải tự chủ. Các danh mục này mới là mục tiêu cụ thể cần đạt được của chương trình CNCL, chứ không phải danh mục CNCL, nó hướng khoa học công nghệ tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Các doanh nghiệp tập trung vào các sản phẩm CNCL, các viện trường vào công nghệ lõi.
Thứ hai: Ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về CNCL, công nghệ lõi và sản phẩm CNCL.
Tiêu chí lựa chọn CNCL cần phải được ban hành để lựa chọn hướng đi cho đúng.
Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn phải đi trước (có thể là pre-standard) để định hướng phát triển công nghệ, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hóa.
Có tiêu chuẩn mới có thể đấu thầu, nghiệm thu và mua sắm. Tức là tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường. Tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt công nghệ. Tiêu chuẩn cũng là điều kiện để sản xuất loạt. CNCL thường mới, rủi ro cao, nên tiêu chuẩn sẽ giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường. Tiêu chuẩn cũng giúp tham gia chuỗi toàn cầu.
Nhà nước phải ban hành tiêu chuẩn, gắn tiêu chuẩn với mua sắm công và đồng bộ tiêu chuẩn với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn thì không có thị trường cho CNCL.
Thứ ba: Tìm ra một số cách triển khai CNCL mới có tính đột phá, ngoài các cách truyền thống.
1. Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm CNCL. Nhà nước đặt mua số lượng đủ lớn, xây dựng chính sách để tạo ra nhu cầu lớn trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh đối với CNCL, sau đó doanh nghiệp bỏ tiền nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra, dùng thị trường để phát triển CNCL. Cũng bằng cách này, nhà nước thu hút được đầu tư nghiên cứu từ khu vực xã hội, góp phần quan trọng đạt mục tiêu 2% GDP cả nước chi cho nghiên cứu, tức gấp 5 lần con số 2% ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ. Trung Quốc rất thành công theo cách này: với xe điện họ trợ giá; với UAV họ cho phép nhiều ứng dụng trong nông nghiệp; với năng lượng mặt trời, họ bắt buộc một tỷ lệ năng lượng tái tạo. Các sản phẩm CNCL như UAV, camera AI, thiết bị 5G, trợ lý ảo AI, blockchain có thể làm theo cách này.
2. Nhà nước chọn mặt gửi vàng, tức chọn tổng thầu công nghệ. Đối với các chương trình công nghệ quốc gia, dự án công nghệ lớn, rất phức tạp, dài hạn, 5-10 năm hoặc lâu hơn, nhà nước chọn nhà thầu công nghệ chính, chọn doanh nghiệp/viện trường chủ lực phát triển CNCL, và cấp ngân

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *